Trang chủ » Tin tức » Chi tiết bài viết

Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực khu công nghiệp


Danh mục: Đào tạo    Người đăng: trungtinhdoan    (10/03/2016)
Nhận thức rõ hạn chế của nhân lực trực tiếp trong các KCN, ngành dạy nghề đã khắc phục những khó khăn, tìm kiếm giải pháp từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là đào tạo nghề chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu lao động của các KCN cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo.

Ảnh minh họa

Cập nhật ngày: 02/10/2016


  Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực khu công nghiệp


                                              TS. Nguyễn Hồng Minh                   

                                          Tổng Cục trưởng - Tổng cục Dạy nghề


 

I. Thực trạng


  1. Khu công nghiệp và nhu cầu nhân lực

 Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước và từ thực tiễn phát triển của Việt Nam cho thấy, tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung tại các KCN đã thật sự mang lại nhiều hiệu quả to lớn không chỉ riêng cho sự phát triển của ngành công nghiệp, mà còn đổi mới cả nền kinh tế ở một quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển. Thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với sự hình thành và phát triển của các KCN.

Ở Việt Nam số lượng KCN trên cả nước được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã tăng rất nhanh từ 1 KCN (năm 1991) lên đến 304 KCN (tính đến tháng 9/2015), trong đó có 206 KCN đã đi vào hoạt động. Đến nay cả nước có 60/63 tỉnh, thành phố có KCN được thành lập.


Các KCN chủ yếu được thành lập ở ba vùng kinh tế trọng điểm (vùng kinh tế trọng điểm phía bắc; vùng kinh tế trọng điểm phía nam; vùng kinh tế trọng điểm miền trung), Vùng Đông Nam Bộ có số lượng KCN được thành lập nhiều nhất với 104 KCN (chiếm 34,3% cả nước), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng với 79 KCN (chiếm 26,1% cả nước) và vùng Tây Nam Bộ với 51 KCN (chiếm 17,1% cả nước). Các KCN đã thu hút được 8.500 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn đăng ký khoảng 70 tỉ USD, trong đó vốn đầu tư nước ngoài hơn 52 tỉ (chiếm 30% FDI cả nước), còn lại là vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước. Nếu tính về giá trị sản xuất công nghiệp, các KCN hiện nay đã đóng góp hơn 30% giá trị công nghiệp của cả nước. Ngoài ra, các KCN phát triển đã kéo theo sự đầu tư về cơ sở hạ tầng (điện, đường, nước...). Những kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của KCN góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ðó là thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu; thu hút vốn đầu tư; nộp ngân sách Nhà nước; tạo công ăn việc làm cho người lao động; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng trình độ công nghệ sản xuất; tạo sản phẩm có sức cạnh tranh, v.v.


Cùng với các KCN các KKT đã được hình thành, đến nay đã có trên 14 KKT  với 320 dự án FDI đầu tư với số vốn đăng ký là 40 tỷ USD và 890 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 560 ngàn tỷ đồng. Chỉ tính riêng các KKT ven biển trên cả nước đã thu hút được 165 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 37,3 tỷ USD; thu hút đầu tư trong nước đạt 510.000 tỷ đồng.


Các KCN, KKT đã thu hút 2,6 triệu người làm việc, trong đó lao động trong các KCN là hơn 1,5 triệu lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp. Tuy nhiên, có một thực tế, trong các dự án đầu tư vào các KCN, KKT, chưa có “quy hoạch” lao động, đại bộ phận lao động đang làm việc trong KCN, KTT (80%) là lao động nhập cư, không có kỹ năng nghề nghiệp. Vì vậy, chất lượng lao động trong các KCN,KKT còn hạn chế, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả kinh tế.


 

2. Thực trạng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu các KCN

Nhận thức rõ hạn chế của nhân lực trực tiếp trong các KCN, ngành dạy nghề đã khắc phục những khó khăn, tìm kiếm giải pháp từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là đào tạo nghề chất lượng cao để đáp ứng  nhu cầu lao động của các KCN cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo.


  a) Những kết quả đã đạt được


 - Về các văn bản quy phạm pháp luật


Nhằm tập trung đào tạo nhân lực có tay nghề cao phục vụ cho các KCN, các vùng kinh tế trọng điểm, trong thời gian qua Bộ đã tham mưu trình, ban hành:


+ Chỉ thị số 37 - CT/TW ngày 06/6/2014 của Ban Bí thư về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao";


+ Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/05/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020;


+ Quyết định số 371/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 phê duyệt Đề án Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN, quốc tế;


+ Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014  của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020;


+ Phê duyệt nghề trọng điểm cấp độ quốc tế, khu vực, quốc gia và các trường được lựa chọn nghề trọng điểm để tập trung đầu tư.


- Về mạng lưới:


Tính đến hết năm 2015 cả nước có 1.467 CSDN, gồm 190 trường CĐN, 280 trường TCN, 997 TTDN và hơn 1000 cơ sở khác tham gia dạy nghề, tăng 3,5% so với năm 2010. Đã có 45 trường công lập được lựa chọn để ưu tiên, tập trung đầu tư thành trường chất lượng cao vào năm 2020, đồng thời Bộ đã phê duyệt quy hoạch 26 nghề cấp độ quốc tế, 34 nghề cấp độ ASEAN và hơn 130 nghề cấp độ QG.


Trong số các CSDN có 285 CSDN thuộc doanh nghiệp trong đó có 28 CSDN thuộc DN nhà nước (chiếm tỷ lệ 9,82%), 257 CSDN thuộc DN tư nhân (chiếm tỷ lệ 90,18%). Những CSDN thuộc doanh nghiệp, chủ yếu đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp, bao gồm cả các doanh nghiệp trong các KCN (Ví dụ như: CĐN Việt Nam – Singapore (Khu Công nghiệp Việt Nam-Singapore, Bình Dương), CĐN Kỹ thuật Công nghệ Dung Quất (Khu Kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi), CĐN Chu Lai-Trường Hải (Khu Phức hợp sản xuất và lắp ráp ô tô Chu Lai - Trường Hải, Quảng Nam),… )


  - Về tuyển sinh


          Cùng với sự phát triển các CSDN, số lượng tuyển sinh học nghề cũng không ngừng tăng lên. Kết quả tuyển sinh học nghề trong 5 năm (2011 - 2015) được 9.171.371 người, trong đó CĐN và TCN  chiếm 12,2 %; sơ cấp nghề  và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm 87,8 %. Năm 2015, tuyển sinh đạt được 1.979.199 người, trong đó CĐN, TCN chiếm 10,6 %. Tỷ lệ này giảm 4,7 % so với năm 2014. Mặc dù kết quả tuyển sinh trong giai đoạn 2011 - 2015 chưa đạt mục tiêu Chiến lược phát triển dạy nghề đề ra, song kết quả tuyển sinh của giai đoạn này tăng 18% so với giai đoạn 2006 - 2010 (tăng 7.773.887 người).


Bảng 1. Kết quả tuyển sinh từ năm 2011 - 2015


                                                                        Đơn vị tính: người


 


 

Năm

 

2011

 

2012

 

2013

 

2014

 

2015

 

Tổng

 

1.773.491

 

1.493.379

 

1.732.016

 

2.023.285

 

1.979.199

 

CĐN

79.737

84.151

87.887

87.988

81.133

 

TCN

141.629

129.189

128.229

132.605

128.971

 

SCN

894.719

909.265

876.788

816.911

779816

 

Dưới 3 tháng

657.406

369.974

639.112

985.781

989.279


 (Nguồn: Tổng cục Dạy nghề)

Do kết quả của đào tạo nghề tăng lên, nên tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trong tổng lực lượng lao động  đã tăng dần. Tính đến cuối năm 2015, lao động qua đào tạo nghề ở các trình độ CĐN, TCN, SCN và dạy nghề dưới 3 tháng đạt 38,5%/40%, (trong đó: đào tạo trình độ CĐN, TCN và SCN là 25%, đào tạo nghề dưới 3 tháng là 13,5%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đã tăng 18,5% so với năm 2010.


  - Về chất lượng đào tạo nghề:


          Chất lượng đào tạo nghề nói chung, chất lượng đào tạo nghề cho các KCN nói riêng từ bước được nâng lên, thể hiện qua kết quả tốt nghiệp và tìm được việc làm sau đào tạo. Theo báo cáo của 63 tỉnh/thành phố, năm 2015, tỷ lệ học sinh học nghề tốt nghiệp có việc làm đạt khoảng 70%. Nhiều trường có những nghề trên 90% học viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp.


Một số nghề có số lượng HSSV có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp chiếm tỷ lệ cao (đối với các nghề có số lượng học viên tốt nghiệp lớn hơn 500 người) như: Kỹ thuật khai thác mỏ hầm lò (94%), Kỹ thuật cơ điện mỏ hầm lò (94%), Hàn (91%), Công nghệ dệt (87%), Công nghệ hóa nhuộm (85%); Kỹ thuật xây dựng (86%), Lâm sinh (82%); May thời trang (81%), Kỹ thuật dược (81%); Nguội sửa chữa máy công cụ (79%); Nghiệp vụ nhà hàng (77%).


Lao động qua ĐTN tham gia vào hầu hết các lĩnh vực ngành nghề của các KCN; đã đảm nhận được các vị trí, công việc phức tạp mà trước đây phải do kỹ thuật viên nước ngoài thực hiện. Hiện, đang chuẩn bị các điều kiện để thí điểm đào tạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn của Úc (tiếp cận chất lượng quốc tế).


  - Về tiền lương, thu nhập của học viên qua đào tạo nghề:

Theo báo cáo của các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, ngay trong quá trình thực tập tốt nghiệp, đã có nhiều học viên, nhất là những học viên khá, giỏi được doanh nghiệp cam kết tiếp nhận vào làm việc sau khi tốt nghiệp. Mức lương khởi điểm bình quân của học viên sau khi tốt nghiệp đạt 3,0 - 3,5 triệu đồng/tháng, trong đó mức lương khởi điểm cao nhất là nghề lái xe ô tô hạng E và hạng F đạt 7,0-9,0 triệu/tháng, mức lương thấp nhất không dưới 2,0 triệu đồng/tháng.

 - Về hợp tác với doanh nghiệp

Hiện nay có nhiều hình thức hợp tác giữa các doanh nghiệp và CSDN, bao gồm các nội dung về trao đổi, cung cấp nguồn lực giữa CSDN và doanh nghiệp; trao đổi thông tin giữa CSDN và doanh nghiệp; hỗ trợ của doanh nghiệp với sinh viên học nghề; hợp đồng đào tạo cho lao động của doanh nghiệp...

Qua khảo sát tại các CSDN, có thể nhận thấy “hợp tác đưa sinh viên đến thực tập tại doanh nghiệp” là hình thức được thực hiện thường xuyên, phổ biến nhất tại các trường dạy nghề. Chương trình hợp tác này được đánh giá cao nhất so với các nội dung khác, có ảnh hưởng nhiều nhất tới kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp của sinh viên.

Trên thực tế, các doanh nghiệp đã có những hoạt động hơp tác với CSDN khá đa dạng như tiếp nhận sinh viên, giáo viên dạy nghề thăm quan tìm hiểu về doanh nghiệp, thực tập, cung cấp thông tin tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp, thông tin phản hồi chất lượng sinh viên tốt nghiệp. Một số doanh nghiệp đã hỗ trợ thiết bị cho dạy nghề cho CSDN; bố trí việc làm cho sinh viên tốt nghiệp….

Ngoài ra, sự hợp tác giữa doanh nghiệp và CSDN còn được thực hiện thông qua các hoạt động: mời cựu sinh viên về nói chuyện với sinh viên đang  học; mời chuyên gia doanh nghiệp về giảng dạy; doanh nghiệp cấp học bổng cho sinh viên, tài trợ thiết bị dạy nghề cho nhà trường; hợp tác xây dựng chỉ tiêu, kế hoạch đào tạo; tham gia xây dựng chương trình đào tạo,...

Theo một số khảo sát của các nhóm nghiên cứu khác nhau, đa số các doanh nghiệp đều sẵn sàng , ở các mức độ khác nhau, tham gia các hoạt động hợp tác đào tạo với CSDN.

Theo chúng tôi các hoạt động hợp tác, trong đó có những nội dung sau nếu được thực hiện tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kiến thức, kỹ năng sinh viên như: mời chuyên gia doanh nghiệp về giảng dạy, mời cựu sinh viên về giao lưu, trao đổi với sinh viên đang học, doanh nghiệp tài trợ thiết bị cho dạy nghề, cấp học bổng cho sinh viên... cũng có những tác động tích cực tới kiến thức, kỹ năng sinh viên, tuy nhiên chúng chỉ đóng vai trò bổ trợ trong toàn bộ quá trình học tập của sinh viên.

Hiện nay, tiềm năng phát triển các chương trình hợp tác với doanh nghiệp trong các CSDN còn rất lớn và được phía doanh nghiệp ủng hộ. Nếu khai thác tốt chất lượng sinh viên tốt nghiệp sẽ được hoàn thiện, đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường lao động.

Hợp tác giữa CSDN với doanh nghiệp đem lại lợi ích cho cả ba bên:

Lợi ích đối với CSDN: Sự hợp tác với các doanh nghiệp tạo cơ hội cho các CSDN huy động nguồn lực từ doanh nghiệp để tăng quy mô và chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó, tăng cường gắn kết giữa: đào tạo và việc sử dụng lao động, tránh lãng phí. Trong điều kiện nguồn kinh phí từ Ngân sách Nhà nước còn hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu phát triển dạy nghề thì hình thức hợp tác này ngày càng được chú trọng.

Lợi ích đối với doanh nghiệp: Hợp tác chặt chẽ với CSDN sẽ giúp nắm bắt được khả năng, đặc điểm đào tạo của nhà trường, từ đó phối hợp, tham gia cùng đào tạo sinh viên đáp ứng yêu cầu của mình. Sản phẩm của “quá trình hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường” sẽ phù hợp với nhu cầu thị trường hơn (cả về số lượng và chất lượng), tránh lãng phí do thừa hoặc thiếu. Đồng thời, với vai trò là người sử dụng sản phẩm của quá trình hợp tác đào tạo đó, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm chi phí đào tạo lại khi tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp từ các CSDN.

Lợi ích đối với người học: Thông qua sự hợp tác, người học nghề  bên cạnh tiếp thu được các kiến thức tại CSDN, được phát triển kỹ năng nghề nghiệp thông qua thực tập tại doanh nghiệp. Qua đó, người học còn được làm quen với máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, nên rút ngắn được giai đoạn thử việc khi vào làm việc tại doanh  nghiệp.

Giải quyết tốt lợi ích của các bên là cơ sở để phát triển các chương trình hợp tác lâu dài và hiệu quả hơn. Kết quả khảo sát cho thấy: hợp tác mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, và lợi ích chung của xã hội.


  b) Một số khó khăn thách thức

- Khung pháp lý về trách nhiệm và quyền lợi của doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo nghề chưa được áp dụng trong thực tiễn; thiếu các chế tài trong tuyển dụng, sử dụng lao động qua đào tạo nghề của doanh nghiệp; nhiều doanh nghiệp chỉ muốn tuyển lao động phổ thông, không qua đào tạo nghề một phần vì tính chất công việc của sản xuât, phần khác vì người lao động qua đào tạo thì phải trả lương cao;

- Doanh nghiệp chưa cung cấp nhu cầu nhân lực lao động hàng năm cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động, dạy nghề theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục nghề nghiệp, nên trên thực tế các trường vẫn chủ yếu đào tạo theo khả năng “cung” của mình chứ chưa thực sự đào tạo theo “cầu” của doanh nghiệp trong các KCN;

- Các doanh nghiệp trong các KCN chưa thực sự chủ động tham gia hợp tác với CSDN, còn các CSDN còn thụ động trong thiết lập mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp; doanh nghiệp trong KCN còn thiếu thông tin về cơ chế, chính sách, cơ chế lợi ích khi tham gia đào tạo nghề (ví dụ: nhiều doanh nghiệp chưa biết có chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp khi tham gia đào tạo nghề);

- Các CSDN chưa thiết lập được bộ phận chuyên quan hệ với doanh nghiệp để tạo thể chủ động trong mối quan hệ cung cầu lao đông qua đào tạo nghề; một bộ phận người học nghề không muốn làm việc ở những doanh nghiệp lao động vất vả, thường phải đi lưu động, hoặc làm việc ở công trường, do vậy rất khó gắn kết đào tạo giữa nhà trường với những doanh nghiệp như vậy.


  II. Định hướng và giải pháp

  1. Định hướng

Chiến lược Phát triển Nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 đã khẳng định: Cần phải thu hút doanh nghiệp tham gia mạnh vào phát triển nhân lực; đẩy mạnh gắn kết các CSDN với doanh nghiệp, mở rộng các hình thức đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và thu hút doanh nghiệp tham gia nhiều hơn vào đào tạo nhân lực; thể chế hóa trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc phát triển nhân lực.

Mặt khác, theo chủ trương  tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, từ chiều rộng sang chiều sâu, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp trong các KCN nói riêng sẽ đổi mới mạnh mẽ. Đầu tư trang thiết bị và công nghệ mới đòi hỏi phải có đội ngũ nhân lực có trình độ, có kỹ năng phù hợp. Do vậy, đào tạo nghề phải đổi mới mạnh mẽ, trên cơ sở dổi mới nội dung, chương trình đào tạo, đổi mới phương thức đào tạo hướng tới hình thành năng lực cho người học.

Luật Giáo dục nghề nghiệp có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2015 sẽ tạo hành lang pháp lý để hệ thống đào tạo nghề nghiệp phát triển mạnh mẽ. Trong luật GDNN quy định rất rõ việc đổi mới chương trình, đổi mới quá trình đào tạo theo chuẩn đầu ra, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của doanh nghiệp về kỹ năng nghề nghiệp của người lao động.

Để nâng cao chất lượng nhân lực trực tiếp trong các KCN, vấn đề cốt lõi là  phải tạo sự đột phá về chất lượng đào tạo nghề nghiệp. Đào tạo nghề cần tập trung vào hai định hướng cụ thể sau:

- Tăng cường  đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp đáp ứng nhu cầu nhân lực lao động có trình độ tay nghề cao, thí điểm đào tạo một số nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn, khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế trọng điểm và xuất khẩu lao động.

- Tuyển sinh dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm từng bước trang bị kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao thu nhập, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp, dịch vụ cung cấp nhân lực cho các KCN.


2. Giải pháp

- Thứ nhất, hình thành hệ thống cơ sở GDNN có sự phân tầng có trường chất lượng cao, đào tạo những nghề mũi nhọn, đáp ứng nhân lực chất lượng cao cho các KCN có công nghệ tiến tiến; đồng thời có những trường có những nghề phổ biên, đào tạo nhân lực có tính đại trà cho các doanh nghiệp trong cả nước. Khuyến khích hình thành các cơ sở GDNN, các trung tâm đào tạo tại KCN; xây dựng mô hình “Trường trong doanh nghiệp”.

- Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo trên cơ sở đổi mới, nâng cao chất lượng các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo:

+ Nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hướng tới theo chuẩn quốc tế; đội ngũ giáo viên giảng dạy các bộ chương trình chuyển giao phải đáp ứng tiêu chuẩn giáo viên của các nước chuyển giao chương trình và được các nước chuyển giao công nhận; Tổ chức chuyển giao chương trình bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm quốc tế của 45 trường chất lượng cao.

+ Đổi mới chương trình đào tạo tiếp cận trình độ tiên tiến của các nước phát triển trên thế giới: Xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng chuẩn đầu ra, tương thích với chương trình của các nước trong khu vực và thế giới; Tiếp nhận chuyển giao và công nhận 34 bộ chương trình, giáo trình, học liệu, phương pháp giảng dạy, công nghệ đào tạo từ các nước phát triển trên thế giới để tổ chức đào tạo theo công nghệ của nước chuyển giao.

+ Chuẩn hóa cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo: Đầu tư đồng bộ thiết bị đào tạo hướng tới phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp và theo chuẩn quốc tế.

+ Tăng cường đào tạo tiếng Anh trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp bảo đảm cho người học nghề có khả năng giao tiếp trong quá trình làm việc; sinh viên tốt nghiệp chương trình chất lượng cao có khả năng làm việc tại các doanh nghiệp FDI, các nước trong khu vực ASEAN và thế giới.

+ Tập trung thí điểm đào tạo nghề chất lượng cao theo chuẩn quốc tế: Lựa chọn các trường để tập trung đầu tư thành trường chất lượng cao. Triển khai kiểm định, công nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo theo chuẩn của các nước chuyển giao (chuẩn chương trình, chuẩn giáo viên, chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị; chuẩn tiếng Anh của cả giáo viên và học sinh); Chuyển giao công nghệ đào tạo; tổ chức đào tạo thí điểm theo chương trình chuyển giao; Đánh giá và cấp văn bằng chứng chỉ của nước chuyển giao (sinh viên được cấp 2 văn bằng: Văn bằng Việt Nam và bằng của nước chuyển giao); Thực hiện nhân rộng các bộ chương trình chuyển giao từ sau 2018 trong các trường chất lượng cao.

 - Thứ ba, có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa ba bên gồm cơ quan quản lý Nhà nước vể GDNN với đại diện giới chủ (VCCI) và cơ sở GDNN để đảm bảo cho các hoạt động của hệ thống GDNN hướng vào việc đáp ứng  nhu cầu của doanh nghiệp trong KCN nói riêng, cho thi trường lao động nói chung;

   Theo Luật GDNN, doanh nghiệp có trách nhiệm chính trong việc ĐTN cho doanh nghiệp của mình (tự tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho lao động của doanh nghiệp; phối hợp với CSDN để cùng đào tạo, đặt hàng đào tạo); đồng thời trực tiếp tham gia vào các hoạt động đào tạo nghề nghiệp (xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, xác định danh mục nghề, xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập của người học nghề…). Doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp thông tin về nhu cầu việc làm và các chế độ đối với người lao động  cho các cơ sở GDNN; đồng thời thường xuyên có thông tin phản hồi cho cơ sở GDNN về mức độ hài lòng đối với “sản phẩm” đào tạo của các cơ sở này. Cơ sở GDNN  thường xuyên tổ chức theo dõi, thu thập thông tin về học sinh học nghề sau khi tốt nghiệp. Cơ sở GDNN có trách nhiệm tiếp nhận các thông tin từ phía doanh nghiệp và thay đổi quá trình đào tạo để thích ứng với nhu cầu của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp chủ động tích cực tham gia vào hệ thống GDNN với vai trò là nhà đầu tư và đồng thời cũng là đối tác khách hàng cho chính “sản phẩm” của mình.  Xây dựng mô hình “Trường trong doanh nghiệp” – mô hình được  thực hiện từ lâu ở nhiều nước công nghiệp cần được học tập. Theo đó mô hình “Trường trong doanh nghiệp” nhấn mạnh vai trò “đào tạo” của doanh nghiệp với giáo viên chính là những thợ bậc cao, những kỹ sư lành nghề trong doanh nghiệp kèm cặp hướng dẫn học viên trên những thiết bị máy móc của doanh nghiệp. Học viên sẽ đảm trách những công việc đơn giản đến trung bình. Chương trình học sẽ được phát triển bởi sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Tuy nhiên mô hình này sẽ gặp trở ngại nếu doanh nghiệp chưa thấy được hiệu quả của quá trình đào tạo này

- Thứ tư, phát triển hệ thống thông tin TTLĐ để gắn kết đào tạo và sử dụng lao động. Hệ thống thông tin TTLĐ được coi là công cụ quan trọng để điều tiết cung- cầu trong thị trường lao động. Do đó hệ thống thông tin này cần được thiết lập cả ở cấp trung ương và cấp địa phương, với những chỉ tiêu thống nhất. Trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, thông tin về “cung” cần thống nhất các chỉ tiêu về tuyển sinh, về ngành nghề đào tạo, về “ chuẩn đầu ra”đối với từng nghề ở từng cấp trình dộ…Thông tin về “cầu” cần thống nhất được các chỉ tiêu về các tiêu chuẩn, kỹ năng nghề nghiệp doanh nghiệp cần đối với một nghề…Bên cạnh đó, cần có các thông tin chung về quy mô tuyển sinh, về cơ cấu ngành nghề đào tạo; về đị điểm nhà trường… (về phía “cung”) và về vị trí việc làm, về mức lương có khả năng được hưởng, về điều kiện làm việc…( về phía “cầu”). Các thông tin này cần được kết nối, cần được chia sẻ.Chính vì vậy, cần thiết phải xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và phát triển hạ tầng công nghệ thông tin.

- Thứ năm, hình thành và tăng cường chất lượng hoạt động của các trung tâm quan hệ doanh nghiệp trong các cơ sở GDNN để làm tốt vai trò cầu nối giữa đào tạo và sử dụng lao động. Trong thời gian vừa qua, một số cơ sở dạy nghề đã đầu tư và phát triển các trung tâm/đơn vị quan hệ doanh nghiệp và thực tế đã chứng minh rằng ở CSDN nào, có các trung tâm/dơn vị quan hệ doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, thì cơ sở đó có sự gắn kết tốt với doanh nghiệp và chất lượng đào tạo được nâng lên. Vì vậy, trong thời gian tới cần đẩy mạnh phát triển các trung tâm/đơn vị này ở tất cả các trường trung cấp, trường cao đẳng trong hệ thống GDNN. Các trung tâm này phải có tính chuyên nghiệp cao, đội ngũ nhân viên phải được trang bị các kiến thức chuyên ngành về quan hệ khách hàng,  kiến thức về makerting xã hội và có các điều kiện làm việc hợp lý./.


Tài liệu tham khảo


1. Báo cáo hàng năm của Ban quản lý KCN Việt nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

2. Khu công nghiệp Việt Nam, Website: http://www.khucongnghiep.com.vn;

3. Luật Giáo dục nghề nghiệp 2015;

4. Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020;

5. Báo cáo Tổng kết năm 2015 của Tổng cục Dạy nghề;

6. Báo cáo khảo sát trực tiếp doanh nghiệp tháng 5/2016, Tổng cục Dạy nghề.

7. Đề án Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; đào tạo thí điểm cấp độ khu vực ASEAN, quốc tế - TCDN.

8.  Kế hoạch phát triển Giáo dục nghề nghiệp 2016-2020, Tổng cục Dạy nghề. 

    (Bài và ảnh được đăng trên báo điện tử Tổng cục Dạy nghề)


 


 


 

Các bài viết cùng chuyên mục:

Huy động nhiều nguồn lực cho đào tạo nghề(02/28/2017)

Trao đổi với phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam, ông Trương Anh Dũng, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Dạy nghề cho biết, để giảm tải sức ép lên ngân ...
Công bố thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Nghề công tác xã hội(01/24/2017)

Ngày 17/1, tại Hà Nội, Hiệp hội Giáo dục nghề nghiệp và Công tác xã hội Việt Nam đã tổ chức Lễ thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Nghề công tác xã h...
Xây dựng chuẩn để nâng chất giáo dục nghề nghiệp(01/20/2017)

TTO - Trước thềm Hội nghị toàn quốc về đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp được tổ chức tại TP.HCM ngày 16-1, TS Nguyễn Hồng Minh - tổ...
4 bộ cùng tham gia tư vấn tuyển sinh(01/09/2017)

TTO - Bộ GD-ĐT vừa chính thức có công văn thông báo kế hoạch phối hợp với báo Tuổi Trẻ tổ chức chương trình tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp năm 2017.
Áp dụng cơ chế tài chính linh hoạt để các trường dạy nghề tự chủ toàn diện(12/29/2016)

(TBTCO) - Bắt đầu từ năm 2017, Bộ Lao động, Thương binh và Xã Hội (LĐTBXH) sẽ chính thức quản lý nhà nước các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN). Nhiều...
Xây dựng Đề án đổi mới giáo dục nghề nghiệp(12/21/2016)

Bộ LĐTB&XH đang xây dựng Đề án đổi mới cơ bản và toàn diện về giáo dục nghề nghiệp với 15 vấn đề mới. Đề án sẽ được lấy ý kiến của các bộ, ngành, địa ...
Giáo dục nghề nghiệp: Hướng tới sự tham gia tốt hơn của khu vực tư nhân(12/14/2016)

Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến nay, cả nước có hơn 2.000 cơ sở giáo dục nghề nghiệp phân bổ trên cả nước, trong đó có ...
Chọn nghề phù hợp để khởi nghiệp (12/08/2016)

Bất chấp khan hiếm nguồn thí sinh, một số ngành tại các trường cao đẳng, trung cấp nghề vẫn đang hút hồ sơ xét tuyển.Sau hai đợt xét tuyển vào trường ...
Bàn giao chức năng quản lý Nhà nước về giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ GD&ĐT và Bộ LĐ-TBXH(11/15/2016)

Chiều ngày 9/11, tại Hà Nội, dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ và Bộ trưởng Bộ LĐ-TBXH Đào Ngọc Dung, hai Bộ đã tiến hành Lễ bàn g...
Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực khu công nghiệp(10/03/2016)

Nhận thức rõ hạn chế của nhân lực trực tiếp trong các KCN, ngành dạy nghề đã khắc phục những khó khăn, tìm kiếm giải pháp từng ...
HỌC TRUNG HỌC XONG THÌ PHẢI VÀO THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG(09/13/2016)

Theo đánh giá của Tổ chức Lao động thế giới (ILO), năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp không chỉ ở châu Á - Thái Bình Dương mà cả ở ASEAN....
Tuyển sinh 2016: Các trường đào tạo nghề “ Trúng lớn”(09/09/2016)

Trong lúc hầu hết các trường ĐH, ngay cả những trường lớn đều đang thiếu chỉ tiêu, thì các trường cao đẳng nghề lại được thí sinh quan tâm và lựa chọn...
CHUNG QUANH VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP(08/31/2016)

Luật Giáo dục nghề nghiệp đã được Quốc hội (QH) Khóa XIII thông qua ngày 27-11-2014 tại Kỳ họp thứ 8. Tuy nhiên, từ trước khi thông qua Luật và cho đế...
CHƯƠNG TRÌNH KHUNG NGÀNH KẾ TOÁN(08/21/2014)

CHƯƠNG TRÌNH KHUNG LUẬT KINH TẾ(08/21/2014)



Dành cho doanh nghiệp

Liên hệ để tham gia sàn GDVL

vieclamthanhnienbariavungtau@gmail.com
Điện thoại: 0643. 651 799

Thống kê

Dảnh cho quảng cáo


@2014 – Trung tâm Dịch vụ việc làm Thanh niên tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Địa chỉ: Quốc lộ 55, KP. Thanh Tân, Huyện Đất Đỏ, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Điện thoại: (0643) 651 799
Fax: (0643) 651 899